Thứ sáu, 14 / 12 / 2018,
clock
Đề xuất mô hình và bộ chỉ tiêu phát triển bền vững ngành Than Việt Nam (Kỳ 1)

Đề xuất mô hình và bộ chỉ tiêu phát triển bền vững ngành Than Việt Nam (Kỳ 1)

Ngày đăng: 24/05/2013 08:50:11


 

 

 

Trong những thập niên gần đây, loài người đang phải đối phó với những nguy cơ to lớn, trong đó có khủng hoảng về năng lượng. Sự cạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch, trong đó có than dùng cho sản xuất và sinh hoạt của nhân loại đang đe dọa đến an ninh năng lượng thế giới và quốc gia. Sự khai thác và sử dụng than bừa bãi, thiếu quy hoạch đã gây nên lãng phí tài nguyên thiên nhiên và ô nhiêm môi trường, tác động xấu đến cuộc sống của con người. Chính vì vậy, trong những năm gân đây, các chính trị gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực năng lượng đã đưa ra các quan điểm và giải pháp phát triển năng lượng bền vững và đảm bảo an ninh năng lượng nói chung và các phân ngành năng lượng: than, dầu khí, điện... Qua nghiên cứu bước đầu, các tác giả muốn giới thiệu một số quan điểm phát triển bền vững ngành than cũng như mô hình và bộ chi tiêu phát triển bền vững ngành than ở Việt Nam.

PGS.TS. NGUYỄN MINH DUỆ
NCS.Ths. NGUYỄN CÔNG QUAN
Trường Đại học Bách khoa - Hà Nội

Nguồn tài nguyên than ở Việt Nam đang dần cạn kiệt. Việc khai thác hầm lò đã phải xuống sâu vài trăm mét. Các mỏ lộ thiên thì tăng sản lượng, một cách vội vã... gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho môi trường sinh thái. Việc phải phát triển bền vững ngành công nghiệp Than là hết sức cấp thiết.

Quan điểm phát triển bền vững ngành Than

Quan điểm phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị, về tăng cường công tác bảo vệ môi trường, PTBV trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm PTBV, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Quan điểm PTBV đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.

Thực hiện Chiến lược nêu trên, Chính phủ đã ban hành QĐ số153/2004/QĐ-TTg, phê duyệt Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 ở Việt Nam).

Tiếp theo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhấn mạnh, mục tiêu tổng quát là “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái...”. Trên cơ sở đó, ngày 12/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 432/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.

Mục tiêu cụ thể của Chiến lược này là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực...

Theo đó, các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 gồm: Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bền vững môi trường (ESI), hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR), tỷ lệ nghèo, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, số người chết do tai nạn giao thông trên 100.000 dân, tỷ lệ số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới, tỷ lệ che phủ rừng...

Các định hướng ưu tiên nhằm PTBV trong giai đoạn 2011 – 2020, về kinh tế, đó là duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung và hiệu quả của vốn đầu tư nói riêng.

Về xã hội, đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, cụ thể, ưu tiên nguồn lực để giảm nghèo và nâng cao điều kiện sống cho đồng bào ở những vùng khó khăn nhất. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có nhà ở, có tư liệu và phương tiện để sản xuất; phát triển kinh tế thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; phát triển sản xuất hàng hóa; trợ giúp việc học chữ, học nghề.

Về tài nguyên môi trường, chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng...

Phát triển văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam và tạo sự hòa nhập xã hội bền vững.

Đến nay, ở Việt Nam đã ban hành bộ chỉ tiêu PTBV (Bộ chỉ tiêu quốc gia) gồm 44 chỉ tiêu (trong đó lĩnh vực kinh tế: 12 chỉ tiêu; lĩnh vực xã hội: 17 chỉ tiêu; lĩnh vực tài nguyên môi trường: 12 chỉ tiêu; lĩnh vực thể chế: 3 chỉ tiêu).

Ngành năng lượng đã xây dựng chiến lược PTBVNLvới những định hướng chiến lược là: Đảm bảo an ninh NL quốc gia; Sử dụng NL hiệu quả và bảo tồn NL; Bảo vệ môi trường; Phát triển nguồn NL mới và tái tạo.

Đồng thời, cũng đề xuất bộ chỉ tiêu PTBV ngành năng lượng với các chỉ tiêu đã được xem xét dưới các góc độ của PTBV đó là:

Bảo đảm tính bền vững và hiệu quả trong sản xuất và sử dụng năng lượng của toàn hệ thống năng lượng và các phân hệ (dầu khí, than, điện...).

Tác động lan toả của ngành năng lượng đến các hoạt động kinh tế - xã hội đất nước, địa phương và các ngành.

Thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Từ đó làm cơ sở xây dựng các bộ chỉ tiêu cho từng phân ngành năng lượng (than, điện, dầu khí ) và cả toàn ngành năng lượng.

Ngành công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là một phân ngành năng lượng, có vai trò cung cấp than và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngành công nghiệp than cũng gây nhiều tác động xấu, đặc biệt là gây nhiều ảnh hưởng tới môi trường.

Trong những năm qua, ngành công nghiệp than đang phát triển nóng. Về sản lượng: đằng sau con số 45 triệu tấn than khai thác trong năm 2007, năm 2012, trong điều kiện nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, ngành công nghiệp than vẫn đạt sản lượng 44,5 triệu tấn. Bên cạnh đó, Vinacomin đã phát triển một số sản phẩm mới như: sản xuất điện, vật liệu nổ công nghiệp, kim loại màu, chế tạo thiết bị mỏ… tuy nhiên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng để phát triển bền vững đã không được chú trọng... Ô nhiễm huỷ hoại môi trường do ngành than “tăng tốc” đã đến hồi báo động. Nếu ngành than không trù tính tới nguồn tài nguyên hữu hạn của mình để chuẩn bị cho một chiến lược phát triển lâu dài vì lợi ích quốc gia mà tiếp tục gia tăng sản lượng một cách quá "nóng" như hiện nay thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi sự hụt hẫng khi nhu cầu của các ngành công nghiệp cùng lúc xuất hiện trong một tương lai gần.

Thực tế cho thấy, nguồn tài nguyên than ở Việt Nam đang dần cạn kiệt. Việc khai thác hầm lò đã phải xuống sâu vài trăm mét. Các mỏ lộ thiên thì tăng sản lượng, một cách vội vã... gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho môi trường sinh thái. Qua những điều nêu trên cho thấy, việc phải phát triển bền vững ngành công nghiệp Than là hết sức cấp thiết.

Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững ngành công nghiệp than, cần thiết xây dựng mô hình và bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của ngành công nghiệp than Việt Nam.

Kỳ 2: Xây dựng mô hình phát triển bền vững ngành Than Việt Nam

 

NangluongVietnam.vn

 

 

Các tin khác cùng chuyên mục

Lương cơ bản chủ tịch tập đoàn Nhà nước: 36 triệu/tháng
Thông báo chào hàng cạnh tranh
Vượt lên khó khăn
Ẩn số nợ xấu - thực sự là bao nhiêu?
Công bố thông tin bất thường 9/2015
Vinacomin: 02 CNLĐ vinh dự nhận giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh lần thứ II năm 2013
V/v điều chỉnh nội dung giấy phép thiết lập trang tin điện tử tổng hợp trên internet của Công ty CP Than Tây Nam Đá Mài-Vinacomin
Báo cáo tình hình quản trị công ty 6 tháng đầu năm 2014
Vinacomin họp báo về hai dự án bauxite Tây Nguyên. Thứ 5, Ngày 16 tháng 5 năm 2013
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty

Hỗ trợ trực tuyến

Hỗ trợ 1
Hỗ trợ 2

Quảng cáo